QUYẾT ĐỊNH số 330/QĐ-HVTP ngày 12 tháng 5 năm 2014 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo của Học viện Tư pháp

 

BỘ TƯ PHÁP

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

Số:   330/QĐ-HVTP 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày  12  tháng  5  năm 2014

QUYẾT ĐỊNH

Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo của Học viện Tư pháp

 

 

GIÁM ĐỐC HỌC VIỆN TƯ PHÁP

 Căn cứ Luật giáo dục số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật giáo dục số 44/2009/QH12 ngày 25 tháng 11 năm 2009;

Căn cứ Luật giáo dục đại học số 08/2012/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2012;

Căn cứ Thông tư số 22/2012/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 6 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân;

Căn cứ Thông tư số 09/2012/TT-BGDĐT ngày 05 tháng 3 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy;

Căn cứ Điều lệ trường Đại học ban hành kèm theo Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ;

Căn cứ Quyết định số 23/2004/QĐ-TTg ngày 25tháng 02 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Học viện Tư pháp;

Căn cứ Quyết định số 1901/QĐ-BTP ngày 13 tháng 7  năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Tư pháp;

Căn cứ Quyết định số 25/2006/QĐ-BGDĐT ngày 26 tháng 6 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy;

Căn cứ Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế học sinh, sinh viên các Trường Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy;

Căn cứ Quyết định số 41/2006/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra các kỳ thi;

Căn cứ Quyết định số 33/2007/QĐ-BGDĐT ngày 20 tháng 6 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân;

Căn cứ Quyết định số 878/QĐ-BTP ngày 15 tháng 3 năm 2010 về quản lý chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng của Bộ Tư pháp;

Xét đề nghị của Trưởng phòng Đào tạo,

 

QUYẾT ĐỊNH:

 

 

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo ban hành kèm theo Quyết định số 830/QĐ-HVTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Giám đốc Học viện Tư pháp như sau:

1. Bổ sung khoản 4 vào Điều 9 như sau:

“4. Hội đồng xét tuyển do Giám đốc Học viện thành lập theo đề nghị của Trưởng Phòng Đào tạo, bao gồm:

- Giám đốc - Chủ tịch Hội đồng;

-  Một Phó Giám đốc làm Phó Chủ tịch Hội đồng (do Giám đốc quyết định);

- Các Phó Giám đốc khác - Uỷ viên;

- Trưởng phòng Đào tạo - Uỷ viên thường trực;

- Phó trưởng phòng Đào tạo - Uỷ viên;       

- Đại diện lãnh đạo khoa chuyên môn - Uỷ viên;

- Trưởng phòng Tài chính- Kế toán - Uỷ viên;

- Chuyên viên phụ trách tuyển sinh - Thư ký Hội đồng;

- Các thành viên khác phù hợp với đặc thù của từng lớp - Uỷ viên”.

 

2. Sửa đổi khoản 1 và khoản 6 Điều 10 như sau:

“1. Các hội đồng đào tạo bao gồm: Hội đồng quản lý thi học phần, Hội đồng xét điều kiện dự thi tốt nghiệp, Hội đồng xét công nhận tốt nghiệp.

Thành phần các hội đồng trên do Giám đốc quyết định theo đề nghị của Trưởng phòng Đào tạo.

6. Không được tham gia các hội đồng đào tạo nếu có vợ, chồng, con; bố, mẹ đẻ;bố, mẹ vợ hoặc chồng; anh, chị em ruột; anh, chị em ruột của vợ hoặc chồng là học viên của khóa học."

 

3. Điều 11 được sửa đổi, bổ sung như sau:

 

“Điều 11. Đánh giá học phần

1. Điểm học phần lý thuyết: là điểm kết thúc học phần lý thuyết của từng môn học, được tổ chức theo hình thức thi viết, thi vấn đáp hoặc các hình thức thi khác do Giám đốc quyết định theo từng chương trình đào tạo, bao gồm điểm thường xuyên và điểm thi kết thúc học phần.

a) Điểm thường xuyên (trọng số 15%):

- Điểm thường xuyên là điểm các bài kiểm tra đột xuất hoặc định kỳ theo quyết định của giảng viên và Bộ môn. Mỗi 15 tiết học ứng với một bài kiểm tra thường xuyên.

Khoa chuyên môn có trách nhiệm tổng hợp điểm thường xuyên và chuyển điểm kèm theo các bài kiểm tra cho Phòng Đào tạo (đối với các lớp mở tại Hà Nội và các địa phương); giảng viên chuyển điểm kèm theo các bài kiểm tra cho Tổ đào tạo (đối với các lớp mở tại Cơ sở thành phố Hồ Chí Minh) để làm căn cứ xét điều kiện dự thi. Kết quả tổng hợp điểm (điểm bình quân của tất cả các bài chia cho số lần kiểm tra) chuyển cho Phòng Đào tạo/Tổ đào tạo không muộn hơn 03 ngày làm việc trước ngày thi kết thúc học phần.

b) Điểm thi kết thúc học phần lý thuyết (trọng số 85%):

Là điểm bài thi viết, thi vấn đáp hoặc các hình thức thi khác quy định trong các chương trình đào tạo.

Phòng Đào tạo/Tổ đào tạo phối hợp với khoa chuyên môn tổng hợp hai loại điểm trên và công bố điểm thi học phần cho học viên trong vòng 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận điểm.

c) Cách tính điểm:

TBCHP = Loại điểm (15%) + Loại điểm (85%)

2. Điểm học phần thực hành, thực tập, bao gồm điểm của bản báo cáo thu hoạch thực tập, điểm diễn án, điểm đi thực tế, điểm tiểu luận… và các hình thức chấm điểm khác được quy định trong các chương trình đào tạo.

Điểm học phần thực hành, thực tập… chiếm trọng số 100% thang điểm và được tính điểm học phần theo từng chương trình đào tạo. Khoa chuyên môn có trách nhiệm chuyển điểm cho Phòng Đào tạo chậm nhất là 07 ngày sau khi kết thúc việc thực hành, thực tập…; Phòng Đào tạo có trách nhiệm công bố điểm thi trong vòng 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận điểm.

3. Điểm thi được công bố trên bảng tin và trên website của Học viện. Không phúc tra, phúc khảo điểm học phần.

4. Điều kiện dự thi học phần:

- Học viên phải nộp đủ học phí theo quy định của Học viện;

- Học viên có đủ 80% số bài kiểm tra thường xuyên theo quy định (đối với học phần lý thuyết);

- Học viên phải tham gia đủ các buổi thực hành, thực tập (đối với học phần thực hành, thực tập).

5. Học viên không có mặt tại buổi kiểm tra thường xuyên hoặc các buổi thực hành, thực tập sẽ phải nhận điểm 0. Trường hợp học viên không đủ các điều kiện được quy định tại điểm 4 Điều này nhưng có đơn xin phép hợp lệ sẽ được làm lại bài kiểm tra thường xuyên hoặc làm bài thu hoạch để lấy điểm mà không phải tham gia thực hành, thực tập lại. Đơn xin phép nghỉ học chỉ coi là hợp lệ khi có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền trong trường hợp bị ốm đau, tai nạn hoặc xác nhận của chính quyền địa phương/đơn vị công tác trong trường hợp có việc hiếu, hỷ, đi công tác...

6. Cách xác định điều kiện dự thi học phần:

Các khoa chuyên môn/giảng viên chuyển kết quả điểm kiểm tra thường xuyên và danh sách theo dõi học viên tại các buổi thực hành, thực tập cho Phòng Đào tạo/Tổ đào tạo theo thời hạn được quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 11 của Quy chế này.

Căn cứ vào số lượng tích luỹ điểm thường xuyên và số lượng buổi thực hành, thực tập mà học viên tham gia, Phòng Đào tạo hoặc Cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh (đối với lớp mở tại thành phố Hồ Chí Minh) lập danh sách và thông báo học viên được dự thi, không được dự thi ở kỳ thi chính, phải học lại đối với từng học phần.

7. Học lại học phần:

a) Những học viên sau đây phải học lại học phần:

- Học viên không có đủ 80% bài kiểm tra thường xuyên hoặc không tham gia đầy đủ các buổi thực hành, thực tập mà không có đơn xin phép hợp lệ;

- Học viên có điểm học phần dưới 5 sau khi đã thực hiện kỳ thi chính, kỳ thi phụ (đối với học phần lý thuyết) hoặc học viên có điểm bình quân thực hành, thực tập…dưới 5;

- Những trường hợp khác phù hợp với quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

b) Học viên học lại học phần phải làm đơn xin học lại (theo mẫu đăng trên website của Học viện) và gửi Phòng Đào tạo để làm thủ tục học lại. Học viên học lại học phần phải nộp học phí theo mức quy định tại thời điểm học lại tương ứng với số tiết học của học phần học lại. Thời gian học viên được phép học lại học phần là 2 năm tính từ ngày nhập học".

 

4. Điều 12 được sửa đổi, bổ sung như sau:

 

"Điều 12. Tổ chức kỳ thi học phần

1. Mỗi học phần lý thuyết tổ chức 01 kỳ thi chính và 01 kỳ thi phụ. Mỗi học phần thực hành, thực tập… chỉ tổ chức 01 kỳ thi chính.

2. Kỳ thi chính đối với học phần lý thuyết được tổ chức cho học viên có đủ điều kiện dự thi học phần theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 11 của Quy chế này. Những học viên xin hoãn thi ở kỳ thi chính được phép dự thi ở kỳ thi phụ và được tính điểm lần 1. Trường hợp điểm thi không đạt 5 điểm theo quy định của Quy chế này, học viên được thi tiếp một lần với đợt thi của lớp hoặc khoá khác có tổ chức thi học phần đó. Những học viên bỏ thi ở kỳ thi chính mà không có đơn xin hoãn thi thì bị điểm 0 và chỉ được quyền dự thi một lần ở kỳ thi phụ.

3. Hình thức thi kết thúc học phần được quy định trong các chương trình đào tạo".

5. Sửa đổi điểm a khoản 3, bổ sung điểm d khoản 3, bổ sung điểm b khoản 5 Điều 13 như sau:

"3.

            a) Học viên phải có đơn xin thi lại tốt nghiệp theo mẫu đăng trên website của Học viện và gửi cho Phòng Đào tạo trước ngày Hội đồng xét điều kiện dự thi tốt nghiệp họp ít nhất là 01 tuần để làm thủ tục thi lại tốt nghiệp;

d) Lệ phí thi: Học viên trượt tốt nghiệp phải đóng lệ phí thi lại tốt nghiệp từ lần thi thứ 2 theo quy định của Học viện.

5.

b) Môn thi tốt nghiệp được quy định trong chương trình đào tạo.”

 

6. Điều 17 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 17. Đề thi

1. Đề thi phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình đào tạo và được bảo quản theo chế độ mật.

2. Quy trình chọn đề thi

a) Đối với kỳ thi kết thúc học phần: Đề thi do Trưởng khoa chuyên môn hoặc Phó Trưởng khoa chuyên môn được Trưởng khoa ủy quyền bốc thăm chọn 01 trong 03 đề thi còn nguyên trong phong bì, có chữ ký niêm phong của Trưởng bộ môn hoặc Phó trưởng bộ môn. Trưởng khoa chuyên môn hoặc Phó Trưởng khoa chuyên môn được ủy quyền ký tên xác nhận đề được chọn bên ngoài phong bì đề thi.

b) Đối với kỳ thi tốt nghiệp: Chủ tịch Hội đồng thi tốt nghiệp hoặc Phó Chủ tịch được ủy quyền thực hiện chọn 01 đề chính, 01 đề dự phòng trong số 05 đề thi có chữ ký niêm phong của Trưởng bộ môn/Phó trưởng bộ môn và ký tên xác nhận, ghi rõ đề chính, đề dự phòng bên ngoài phong bì đựng đề thi.

c) Đối với kỳ thi kết thúc học phần hoặc kỳ thi tốt nghiệp có ngân hàng đề thi thì Trưởng khoa chuyên môn hoặc Phó Trưởng khoa được ủy quyền bốc thăm chọn đề thi học phần từ ngân hàng đề thi học phần; Chủ tịch Hội đồng thi tốt nghiệp hoặc Phó Chủ tịch được ủy quyền chọn đề thi từ ngân hàng đề thi tốt nghiệp. Đề thi trong ngân hàng đề thi phải được để trong từng phong bì riêng, dán kín, có chữ ký niêm phong của Trưởng bộ môn.

3. Quy trình nhân bản đề thi và chuyển giao đề thi cho Ban Coi thi

Người đã chọn đề giám sát quá trình nhân bản đề thi, ký và dán niêm phong vào các phong bì đề thi và  trực tiếp bàn giao cho Trưởng ban Coi thi.. Việc bàn giao túi đựng đề thi giữa người chọn đề và Trưởng ban Coi thi phải được lập thành biên bản.

Đối với các lớp tổ chức tại địa phương, người chọn đề phải nhân bản đề thi dự phòng (kể cả kỳ thi kết thúc học phần và kỳ thi tốt nghiệp)."

7. Sửa đổi khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 20 như sau:

 

"Điều 20. Chấm thi

1. Các bài thi dưới hình thức thi viết hoặc thi vấn đáp (học phần, tốt nghiệp) do hai giảng viên chấm điểm. Các bài thi thực hành, thực tập, tiểu luận... do một giảng viên độc lập chấm điểm.

2. Thời gian chấm:

a) Đối với các lớp đào tạo tại thành phố Hà Nội và các tỉnh phía Bắc:

- Đối với bài thi học phần: Trong thời hạn một ngày làm việc, kể từ khi kết thúc môn thi, Thư ký Hội đồng tổ chức làm phách và giao ngay bài thi cho Trưởng bộ môn tổ chức chấm thi. Điểm thi học phần và đáp án chấm thi phải được chuyển về Phòng Đào tạo trong vòng 10 ngày làm việc, kể từ ngày Trưởng bộ môn nhận được bài thi.

Phòng Đào tạo công bố điểm thi học phần và đáp án chấm thi cho các học viên trong vòng 05 ngày, kể từ ngày nhận được điểm và đáp án từ Khoa chuyên môn.

- Đối với bài thi tốt nghiệp: Thư ký Hội đồng giao bài thi cho Ban làm phách ngay sau khi kết thúc kỳ thi tốt nghiệp.

Ban làm phách tổ chức làm phách và chuyển lại bài thi cho Ban Thư ký chậm nhất là một ngày làm việc, kể từ ngày nhận. Ban Thư ký phải chuyển ngay bài thi cho Trưởng môn chấm để tổ chức chấm thi theo đúng kế hoạch.

Điểm thi tốt nghiệp được công bố sau khi có kết quả của Hội đồng xét công nhận tốt nghiệp họp. Phòng Đào tạo có trách nhiệm công bố các loại điểm thi của học viên trên Website của Học viện.”

 

8. Sửa đổi khoản 2, khoản 3 Điều 21 như sau:

"2. Trong quá trình chấm thi, nếu cán bộ chấm thi phát hiện bài thi có dấu hiệu vi phạm quy chế thì xử lý như sau:

- Trường hợp có nghi vấn đánh dấu bài thì có trách nhiệm báo cáo ngay cho Trưởng môn chấm để Trưởng môn chấm tổ chức chấm tập thể gồm ít nhất 3 giảng viên tham gia chấm. Điểm của bài thi sẽ do các giảng viên chấm tập thể cùng thống nhất thảo luận và cho điểm vào phiếu chấm thi và bài thi. Trường hợp các giảng viên không thống nhất được thì điểm của bài thi là điểm trung bình chung của các giảng viên; các giảng viên có trách nhiệm cùng ký vào phiếu chấm và bài thi của học viên.

- Trường hợp phát hiện những bài thi có nội dung làm bài giống nhau thì giảng viên lập biên bản và cho điểm 0 đối với bài thi giống nhau 100%; trừ ½ điểm đối với các bài thi giống nhau từ 50% trở lên và trừ ¼ điểm đối với bài thi giống nhau dưới 50% (tính theo số lượng câu hỏi hoặc khối lượng kiến thức thi).

- Cho điểm (0) đối với những phần của bài thi hoặc toàn bộ bài thi nếu: những phần của bài thi viết trên giấy nháp, giấy thi không đúng quy định; nộp hai bài cho một môn thi hoặc bài thi viết bằng các loại chữ, loại mực khác nhau.

- Huỷ bỏ kết quả thi của học viên trong các trường hợp: Viết vẽ lên bài thi những nội dung không liên quan đến bài thi; nhờ người khác thi hộ hoặc làm bài thi hộ người khác dưới mọi hình thức; sửa chữa, thêm bớt vào bài làm sau khi đã nộp bài thi; dùng bài thi của người khác để nộp.

- Tiểu luận, bình luận hồ sơ, báo cáo thực tập, thu hoạch diễn án giống nhau: cho điểm 0.

Phòng Đào tạo tổng hợp các biên bản vi phạm quy chế khi chấm thi, báo cáo Hội đồng quản lý thi và thông báo cho người vi phạm.

3. Mọi trường hợp phát hiện vi phạm quy chế thi sau khi đã thi xong, chấm xong sẽ được giải quyết theo trình tự thanh tra đột xuất được quy định tại khoản 3 Điều 16 và xử lý theo các hình thức được quy định tại Quy chế này."

 

9. Bổ sung điểm e khoản 1 và sửa đổi khoản 2 Điều 23 như sau:

 

"1.

e. Không có đơn tố cáo về việc vi phạm pháp luật vào thời điểm Hội đồng xét điều kiện tốt nghiệp.

2. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét công nhận tốt nghiệp, Giám đốc ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những học viên đủ các điều kiện theo quy định. Học viên sẽ được xét công nhận tốt nghiệp với đợt xét gần nhất khi không còn vi phạm các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này."

 

10. Sửa đổi khoản 2 Điều 26 như sau:

 

"2. Đối với hành vi vi phạm khác sẽ xử lý theo trình tự như sau:

- Học viên có hành vi vi phạm phải làm bản tự kiểm điểm và tự nhận hình thức kỷ luật. Bản tự kiểm điểm của học viên không mang tính bắt buộc;

- Giáo viên chủ nhiệm lớp chủ trì họp với tập thể lớp, phân tích và đề nghị hình thức kỷ luật gửi đơn vị phụ trách công tác học viên;

- Đơn vị phụ trách công tác học viên làm báo cáo đề nghị Hội đồng kỷ luật học viên họp xét kỷ luật;

- Hội đồng kỷ luật học viên được thành lập theo đề nghị của Trưởng phòng Công tác học viên (đối với lớp mở tại thành phố Hà Nội) hoặc Trưởng phòng Đào tạo đối với các lớp mở tại địa phương và những lớp do Cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh quản lý. Người đề nghị đồng thời là uỷ viên thường trực của các hội đồng tương ứng. Thành phần Hội đồng kỷ luật gồm:

- Giám đốc Học viện là Chủ tịch Hội đồng;

- Phó Giám đốc Học viện phụ trách đào tạo là Phó chủ tịch Hội đồng;

- Đại diện lãnh đạo Phòng Công tác học viên - Uỷ viên;

- Đại diện lãnh đạo Phòng Đào tạo- Uỷ viên;

- Đại diện lãnh đạo khoa chuyên môn - Uỷ viên;

- Đại diện Ban thanh tra đào tạo - Uỷ viên;

- Giáo viên chủ nhiệm lớp của khoa chuyên môn - Uỷ viên.

- Chuyên viên quản lý lớp của Phòng Đào tạo/Phòng Công tác học viên - Thư ký;

Hội đồng tổ chức họp xét kỷ luật học viên, thành phần cuộc họp bao gồm: các thành viên của Hội đồng, đại diện tập thể lớp có học viên vi phạm và học viên vi phạm. Học viên vi phạm kỷ luật đã được thông báo không đến dự họp mà không có lý do chính đáng thì Hội đồng vẫn tiến hành họp và xét thêm khuyết điểm thiếu ý thức tổ chức kỷ luật của học viên đó.

Hội đồng kiến nghị áp dụng hình thức kỷ luật, đề nghị Giám đốc ra quyết định kỷ luật, trong đó ghi rõ hình thức kỷ luật, thời gian kỷ luật, thời điểm hết hạn kỷ luật.

 

11. Điều 27 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 27. Xử lý kỷ luật đối với cán bộ, giảng viên

1. Khiển trách đối với những người vi phạm một trong các lỗi sau đây:

- Sử dụng điện thoại di động trong phòng thi;

- Rời khỏi vị trí coi thi khi đã bị nhắc nhở;

- Hút thuốc hoặc có mùi rượu, bia trong phòng thi;

- Nói chuyện riêng, làm việc riêng trong phòng thi;

- Không lập biên bản đối với thí sinh có hành vi vi phạm;

- Không phát hiện những lỗi đánh dấu hiển nhiên trong bài thi của học viên;

- Chấm thi không đúng nơi quy định;

- Vi phạm thời gian chấm thi, chuyển điểm;

- Các hành vi vi phạm Quy chế này mà chưa đến mức bị cảnh cáo hoặc đình chỉ nhiệm vụ."

 

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký. Những nội dung của Quy chế đào tạo được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định này được áp cho các lớp khai giảng từ năm 2014 trở đi.

Trưởng các đơn vị thuộc Học viện Tư pháp, cán bộ, giảng viên và các học viên của Học viện Tư pháp chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

                                                                                                             

Nơi nhận:

- Như Điều 2;

- Thứ trưởng Nguyễn Thuý Hiền (để b/c);

- Vụ TCCB, Vụ KHTC (để phối hợp);

- Website HVTP (để đăng tải);

- Lưu: VT, ĐT.

GIÁM ĐỐC

(Đã ký)

 

  

  Nguyễn Thái Phúc