Đăng ký trực tuyến về cung cấp dịch vụ Đảng bộ Học Viện Tư Pháp Công đoàn Học Viện Tư Pháp Đoàn TNCS HCM Học Viện Tư Pháp Chi hội cựu chiến binh Đào tạo luật sư thương mại quốc tế Trung tâm tư vấn pháp luật Danh bạ điện thoại Cơ sở dữ liệu quốc gia về VBPL Văn bản chỉ đạo điều hành

Đang online: 152

Lượt truy cập: 13632757

Phán quyết liên quan đến Tranh chấp về việc giao hàng chậm trong hợp đồng gia công găng tay(27/12/2016)
Nguyên đơn đã không có đủ chứng cứ chứng minh cho lập luận rằng việc Bị đơn từ chối hàng ở Hồng Kông là không có căn cứ và rằng đây là một vi phạm hợp đồng. Nguyên đơn không chứng minh được rằng Bị đơn đã chấp nhận việc gửi lô hàng thứ tám với 1.000.000 găng cao su bốc lên tàu ngày 4 tháng 11 năm 1988. Uỷ ban trọng tài lưu ý rằng các bên đã chấp thuận hoãn việc gửi lô hàng đầu tiên. Do đó, thời gian giao hàng tiếp theo cũng được sửa đổi và Bị đơn đã không phản đối những lần giao hàng muộn ngoại trừ đối với lô hàng thứ tám mặc dù việc Nguyên đơn giao hàng sau khi thư tín dụng đã hết hạn là vi phạm thoả thuận của các bên về thời gian giao hàng. Vì vậy, Uỷ ban trọng tài quyết định bác yêu cầu của Nguyên đơn đòi bồi thường thiệt hại liên quan đến lô hàng thứ tám
Phán quyết liên quan đến Tranh chấp về việc từ chối nhận hàng trong hợp đồng bán giấy gói kẹo(21/12/2016)
Thông thường khi người mua từ chối nhận hàng, người bán có quyền và phải bán lô hàng đó cho người khác, nếu giá cao hơn giá hợp đồng ký với người mua thì người bán được hưởng, nếu giá thấp hơn thì có quyền đòi người mua bồi thường chênh lệch cộng với các chi phát sinh như chi phí lưu kho, chi phí liên quan đến bán lại lô hàng chứ không có quyền đòi bồi thường toàn bộ trị giá lô hàng. Nhưng trong trường hợp này giấy gói kẹo được sản xuất ra đã mang nhãn, tên cụ thể nên Nguyên đơn không thể bán cho ai khác, bởi không ai có thể sử dụng được, trừ Bị đơn. Vì thế, Nguyên đơn có quyền đòi Bị đơn trả tiền toàn bộ trị giá lô hàng với điều kiện là Nguyên đơn phải giao lô hàng đó cho Bị đơn. Vì lô hàng còn đang nằm trong kho của Nguyên đơn nên Uỷ ban trọng tài quyết định buộc Bị đơn phải bồi thường cho Nguyên đơn trị giá lô hàng là 77.705 USD chứ không phải là 83.185 USD như Nguyên đơn đòi, đồng thời buộc Nguyên đơn phải giao lô hàng ứng với 77.705 USD theo điều kiện CIF Hải Phòng cho Bị đơn. trừ khi Bị đơn không muốn nhận lô hàng này nữa.
PHÁN QUYẾT VỀ TRANH CHẤP VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG(21/12/2016)
TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT: Ngân hàng Pháp lập luận rằng bảo đảm cấp cho công ty Ma-rốc chỉ là một bảo đảm phụ thuộc và do đó nó phụ thuộc vào kết quả của trọng tài trong tranh chấp giữa công ty Pháp và công ty Ma-rốc. Ngân hàng cũng cho rằng ngay cả nếu bảo đảm này là bảo đảm chứng từ chỉ dựa trên yêu cầu duy nhất là báo cáo giám định thì báo cáo này cũng không hợp pháp vì việc lập báo cáo có gian lận. Cuối cùng, Nguyên đơn cho rằng do có các khó khăn trong việc giải thích báo cáo, bảo đảm này không thể được tự động thanh toán.
Phán quyết liên quan đến Tranh chấp do hàng có khuyết tật(14/12/2016)
Thực hiện hợp đồng, ngày 16 tháng 8 năm 1997 Bị đơn đã giao hai máy thêu cho Nguyên đơn, máy đã được lắp đặt và đưa vào sử dụng. Trong quá trình sử dụng, máy có nhiều hỏng hóc, Bị đơn đã cử chuyên gia sang Việt Nam sửa chữa nhưng không thành công. Bị đơn cam kết sẽ sửa chữa xong vào ngày 4 tháng 4 năm 1998 và sẽ bồi thường 29.202 USD cho 40 ngày máy ngừng hoạt động nhưng sau đó Bị đơn chỉ bồi thường 4.302 USD và không tiếp tục sửa chữa máy nữa.
Phán quyết liên quan đến Tranh chấp về việc tăng giá hàng hóa trong hợp đồng mua bán thép(13/12/2016)
Vấn đề đầu tiên và đồng thời cũng là vấn đề trung tâm cần phải giải quyết trong vụ việc này là việc xác định luật nào được áp dụng để xem xét hợp đồng. Trong trường hợp này, trọng tài xác định rằng Công ước Viên của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (ký ngày 11 tháng 4 năm 1980) không thể được áp dụng. Công ước này có hiệu lực ở Ai Cập, Nam Tư, cũng như tại Pháp, nhưng theo điều 100(2) của Công ước này chỉ áp dụng cho những hợp đồng mua bán được ký kết sau ngày Công ước có hiệu lực (ngày1 tháng 1 năm 1988) trong khi đó hợp đồng mua bán đang xét lại được ký vào ngày 20 tháng 8 năm 1987
Phán quyết liên quan đến Tranh chấp về giao hàng thiếu trong hợp đồng mua bán quàn áo trẻ em(12/12/2016)
Theo Nguyên đơn, khi hàng đến cảng Havana Nguyên đơn đã xác nhận rằng bề ngoài của số thùng giấy là không có vấn đề gì nhưng có một số thùng có trọng lượng không đủ. Nguyên đơn đã vận chuyển số hàng nói trên vào kho. Cơ quan giám định sở tại đã xác nhận thiếu 606 quần/áo trong 19 thùng hàng được giám định (trong số 300 thùng) so với NQ 9114, B/L52, hoá đơn SUL 30047 được giao. Kết quả giám định 61 thùng hàng theo NQIOO58-4, B/L53, hoá đơn SUL 30048 xác định thiếu 1.845 quần/áo.
Phán quyết liên quan đến Tranh chấp do từ chối thanh toán trong hợp đồng mua bán cafe(07/12/2016)
Bị đơn là người mua có nghĩa vụ trả tiền hàng cho Nguyên đơn là người bán. Trong vụ kiện này Bị đơn không trực tiếp thực hiện nghĩa vụ trả tiền mà lại chỉ định người thứ ba (Cửa hàng A) thay mình trả tiền cho Nguyên đơn và đã được Nguyên đơn đồng ý. Bằng chứng là Biên bản thoả thuận ba bên số 9623/INUT.97 ngày 10 tháng 6 năm 1997. Như vậy, thực chất là Bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả tiền thông qua người thứ ba, và do đó Bị đơn vẫn phải chịu trách nhiệm về việc làm của người thứ ba. Nếu người thứ ba thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả tiền thì Bị đơn hết trách nhiệm, ngược lại nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện sai nghĩa vụ trả tiền thì Bị đơn vẫn phải chịu trách nhiệm trước Nguyên đơn. Do vậy, Nguyên đơn kiện Bị đơn đòi trả tiền hàng khi người thứ ba (Cửa hàng A) không trả là hoàn toàn đúng.
PHÁN QUYẾT VỀ TRANH CHẤP DO KHÔNG MỞ THƯ TÍN DỤNG (L/C) ĐỂ THANH TOÁN TIỀN HÀNG(07/12/2016)
TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT: Uỷ ban trọng tài cho rằng các điều khoản trong hợp đồng là do các bên thoả thuận với nhau. Trong vụ việc này, việc Nguyên đơn đưa hay không đưa vào hợp đồng những điều khoản giống như hợp đồng mẫu do Bị đơn chuyển cho đó là quyền của Nguyên đơn. Bị đơn có quyền chấp nhận hoặc từ chối Hợp đồng do Nguyên đơn soạn thảo. Trước khi ký hợp đồng cần phải đọc kỹ nội dung hợp đồng, nếu không đồng ý thì Bị đơn có quyền không ký. Một khi đã ký vào bản hợp đồng thì các bên phải có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đó. Vì thế lý do "không thạo tiếng Anh" không phải là một căn cứ hợp pháp cho việc không mở L/C .......
Phán quyết liên quan đến Tranh chấp về việc giao hàng sai quy cách trong hợp đông mua bán thép phế liệu(06/12/2016)
Trong hoạt động xuất nhập khẩu, uỷ thác xuất nhập khẩu là một việc làm phổ biến, đặc biệt trong các trường hợp đơn vị có nhu cầu nhập khẩu/xuất khẩu hàng hoá không được phép nhập khẩu/xuất khẩu trực tiếp. Tuy nhiên, cần lưu ý là trong uỷ thác nhập khẩu/xuất khẩu, người nhận uỷ thác là người trực tiếp ký hợp đồng xuất nhập khẩu (hợp đồng mua bán với đối tác nước ngoài) và là một bên của hợp đồng này. Người uỷ thác không phải là một bên của hợp đồng nên không có quyền tham gia vào việc điều chỉnh hay sửa đổi hợp đồng. Do đó, nếu có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng xuất nhập khẩu, các bên không thể viện dẫn đến người uỷ thác nhập khẩu để làm căn cứ miễn trách cho mình.
Phán quyết liên quan đến Tranh chấp trong hợp đồng mua bán thiết bị(05/12/2016)
Theo hợp đồng, Nguyên đơn thoả thuận bán và cung cấp cho Bị đơn thiết bị và thực hiện các dịch vụ cho một nhà máy mới tại Ấn Độ; Luật của bang New York sẽ điều chỉnh quyền và nghĩa vụ các bên. Điều khoản trọng tài qui định như sau: "Bất cứ tranh chấp nào phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này mà các bên không có khả năng giải quyết thông qua đàm phán thương lượng thì sẽ được giải quyết chung thẩm theo qui tắc trọng tài ICC. Như qui định trong Qui tắc này, mỗi bên sẽ chọn một trọng tài viên, và Toà Trọng tài của ICC sẽ chọn trọng tài viên thứ ba. Tố tụng trọng tài sẽ được thực hiện vào thời gian và tại địa điểm do Toà Trọng tài quyết định. Phán quyết trọng tài có thể được cho thi hành tại bất kỳ một toà án có thẩm quyền nào".